Kháng chiến chống Mỹ là giai đoạn lịch sử khốc liệt nhưng rực sáng ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam. Bài viết này của KidsUP sẽ giúp ba mẹ và các con nhìn lại các mốc sự kiện, chiến lược then chốt và giá trị để lại hôm nay — ngắn gọn, dễ hiểu, không lan man.
Bối cảnh sau Genève 1954
Hiệp định Genève 1954 tạm thời chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17, mở ra thời kỳ hai miền đi theo hai con đường khác nhau. Từ đây, mâu thuẫn chính trị – xã hội ngày càng gay gắt, đặt nền cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Chia cắt hai miền & chính sách của Mỹ ở miền Nam
Sau Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời bị chia cắt ở vĩ tuyến 17: miền Bắc bước vào khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa; miền Nam đặt dưới chính quyền Ngô Đình Diệm với sự hậu thuẫn toàn diện từ Mỹ (cố vấn, viện trợ, huấn luyện quân đội).

Tại miền Nam, chính quyền Sài Gòn tổ chức trưng cầu, lập chế độ Việt Nam Cộng hòa (1955) và bác bỏ tổng tuyển cử thống nhất năm 1956. Mỹ – Diệm đẩy mạnh “tố cộng, diệt cộng”, ban hành Luật 10/59, lập tòa án quân sự đặc biệt, trấn áp các lực lượng cách mạng và phong trào yêu nước.
Những biện pháp an ninh – bình định ở nông thôn, chính sách dồn dân, kiểm soát gắt gao đã làm bùng phát mâu thuẫn xã hội, xâm phạm lợi ích của nông dân và thị dân nghèo. Sự đàn áp kéo dài khiến phong trào đấu tranh chính trị phát triển, đồng thời thúc đẩy nhu cầu chuyển thế đấu tranh ở miền Nam.
Hệ quả là tương quan chính trị – quân sự dần thay đổi: cơ sở cách mạng kiên trì bám dân, tích lũy lực lượng, chuẩn bị cho bước chuyển mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ – Ngụy.
Phong trào Đồng khởi (1959–1960) và ý nghĩa
Bối cảnh đàn áp quyết liệt cùng yêu cầu tự vệ của quần chúng đặt ra nhu cầu thay đổi phương thức đấu tranh. Nghị quyết 15 (1959) mở đường kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tạo cơ sở pháp lý – tổ chức cho phong trào bùng nổ.
Tháng 1/1960, Đồng khởi nổ ra mạnh mẽ ở Bến Tre, với hình ảnh “đội quân tóc dài” tiêu biểu: phụ nữ, nông dân, thanh niên đồng loạt đứng lên, phối hợp lực lượng vũ trang địa phương đánh vào hệ thống kìm kẹp ở cơ sở. Nhiều xã, ấp giành được quyền làm chủ, chính quyền tay sai bị tê liệt ở không ít nơi.
Từ Bến Tre, làn sóng lan nhanh khắp Nam Bộ, lên Tây Nguyên và một số vùng Trung Trung Bộ. Cùng với đấu tranh chính trị, lực lượng du kích phát triển, địa bàn căn cứ mở rộng, hệ thống “tề, ngụy” ở nông thôn bị phá vỡ từng mảng.
Ý nghĩa then chốt của Đồng khởi là tạo bước ngoặt chiến lược: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công; phát huy “ba mũi giáp công” (chính trị – quân sự – binh vận). Phong trào dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (12/1960), thống nhất lực lượng, mục tiêu và phương thức đấu tranh ở miền Nam.
Đường Trường Sơn – hậu cần chiến lược
Trước yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, Đoàn 559 được thành lập (1959) để mở tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn (còn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh). Nhiệm vụ trung tâm: đưa người, vũ khí, lương thực, thuốc men và trang bị kỹ thuật từ hậu phương lớn miền Bắc vào các chiến trường.

Từ những lối mòn ban đầu, hệ thống đường ngày càng hoàn chỉnh với đường bộ, đường sông, bến bãi, “binh trạm”, trạm sửa chữa, kho tàng, bệnh xá và mạng thông tin liên lạc. Công tác ngụy trang, nghi binh, bảo đảm kỹ thuật được tổ chức chặt chẽ, phù hợp điều kiện rừng núi, khí hậu khắc nghiệt.
Đường Trường Sơn thường xuyên hứng chịu đánh phá bằng không quân, hỏa lực tầm xa và chất độc hóa học. Bộ đội Trường Sơn, công binh, phòng không, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến phối hợp mở đường, sửa đường, chống lầy, rà phá bom mìn; vận tải kết hợp gùi thồ, xe cơ giới, thuyền bè. Từ cuối những năm 1960, tuyến ống xăng dầu được xây dựng, nâng mạnh năng lực chi viện.
Nhờ tuyến hậu cần chiến lược này, khối lượng vật chất – kỹ thuật, nhân lực vào Nam tăng đều qua các năm, bảo đảm thế trận liên hoàn Bắc – Trung – Nam. Đường Trường Sơn trở thành “mạch máu” của chiến tranh nhân dân, góp phần quyết định tạo thế và lực cho cách mạng miền Nam tiến tới thắng lợi.
Chiến tranh đặc biệt (1961–1965)
Đây là chiến lược Mỹ dựa vào quân đội Sài Gòn, cố vấn và hỏa lực hiện đại (trực thăng, thiết giáp), cùng chương trình “ấp chiến lược” để bình định nông thôn. Tuy nhiên, trước thế trận chiến tranh nhân dân và các đòn đánh then chốt của lực lượng cách mạng, “Chiến tranh đặc biệt” dần bị bẻ gãy, buộc Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ” năm 1965.
Mục tiêu và nội dung của “Chiến tranh đặc biệt”
Mỹ đặt mục tiêu “dùng người Việt đánh người Việt”, hạn chế quân Mỹ trực tiếp tham chiến để giảm tổn thất và rủi ro chính trị. Trọng tâm là viện trợ kinh tế – quân sự, đưa cố vấn xuống tận đơn vị, tăng cường trinh sát – thông tin, và áp dụng chiến thuật cơ động nhanh.
Nội dung chủ yếu gồm: bình định nông thôn, xây dựng “ấp chiến lược”, phát triển lực lượng biệt kích – dân vệ, đẩy mạnh trực thăng vận/thiết xa vận, càn quét – lùng sục nhằm “tát nước bắt cá”. Song song, khủng bố, chiêu hồi và chiến tranh tâm lý được triển khai để phá cơ sở cách mạng.
Chương trình “ấp chiến lược”: triển khai và thất bại
“Ấp chiến lược” được xem như “xương sống” của bình định: dồn dân vào ấp có hàng rào, đồn bốt, kiểm soát ra vào, tách dân khỏi lực lượng cách mạng. Chính quyền vận động, cưỡng bức di dời, lập tề, cấp thẻ, tổ chức canh gác và kiểm soát lương thực.

Tuy nhiên, mô hình này xâm phạm quyền lợi nông dân, gây bất bình và làm đứt gãy sinh kế. Cơ sở cách mạng bám dân, vừa vận động chính trị, vừa “phá ấp, phá kìm” có trọng điểm; nhiều ấp bị bỏ trống hoặc sụp đổ nhanh sau 1963 khi chính trường Sài Gòn rối loạn. “Áo giáp” bình định rạn nứt, nông thôn từng bước nghiêng về phía cách mạng.
Thủ đoạn quân sự chủ yếu và cách đối phó
Mỹ – Sài Gòn dựa nhiều vào trực thăng vận, thiết xa vận và hỏa lực mạnh để đánh nhanh, bao vây – chia cắt, truy kích lực lượng vũ trang địa phương. Lực lượng biệt kích, trinh sát, dân vệ phối hợp lùng sục, kiểm soát các trục giao thông và khu vực trọng điểm.
Phía cách mạng phát huy chiến tranh du kích: “bám đất, bám dân”, đánh nhỏ, đánh gần, đánh hiểm; gài mìn, phục kích, bắn tỉa, chia cắt đội hình cơ động. Khi có điều kiện, chủ lực tập trung đánh tiêu diệt từng bộ phận, kết hợp “ba mũi giáp công” (chính trị – quân sự – binh vận) để phá vỡ vòng vây và mở rộng vùng làm chủ.
Những trận then chốt bẻ gãy “Chiến tranh đặc biệt”
- Ấp Bắc (1/1963, Định Tường): Lực lượng vũ trang địa phương giữ vững trận địa, bắn rơi nhiều trực thăng, diệt phương tiện cơ giới, làm thất bại một cuộc càn lớn. Trận thắng gây tiếng vang, chứng minh có thể đánh bại chiến thuật trực thăng vận.
- Bình Giã (12/1964–1/1965, Phước Tuy): Chủ lực ta chủ động tìm diệt, gây thiệt hại nặng cho đơn vị tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn. Chiến thắng cho thấy ta có khả năng đánh vận động quy mô lớn, làm lung lay niềm tin vào khả năng “đè bẹp” cách mạng bằng hỏa lực.
- Ba Gia (5/1965, Quảng Ngãi) – Đồng Xoài (6/1965, Phước Long): Liên tiếp các đòn tiến công tiêu diệt từng mảng chủ lực đối phương, phá vỡ các mũi bình định. Tương quan lực lượng và thế trận ở nhiều địa bàn chuyển lợi cho ta, khiến chiến lược đặc biệt mất dần hiệu lực.
Khủng hoảng chính trị Sài Gòn và tác động
Năm 1963 bùng nổ khủng hoảng Phật giáo, biểu tình quy mô lớn và đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Từ đó, nội bộ chính quyền Sài Gòn bất ổn, đảo chính liên miên, bộ máy kìm kẹp suy yếu, bình định đình trệ.
Sự rối loạn chính trị làm “ấp chiến lược” sụp đổ nhanh hơn, tinh thần binh sĩ sa sút, khả năng phối hợp tác chiến giảm. Đây là nhân tố nội tại quan trọng góp phần làm phá sản “Chiến tranh đặc biệt”.
Leo thang và chiến tranh cục bộ (1965–1968)
Mỹ đổ quân trực tiếp vào miền Nam, dựa vào hỏa lực vượt trội và chiến thuật “tìm diệt” để nhanh chóng xoay chuyển cục diện. Song trước thế trận chiến tranh nhân dân và sức bền hậu phương, chiến lược này vấp phải những đòn đánh quyết định, buộc Mỹ phải xuống thang vào năm 1968.
Mục tiêu, lực lượng và cách đánh của Mỹ
Đầu 3/1965, Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, mở màn cho “chiến tranh cục bộ”. Mục tiêu của Washington là tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, giành lại quyền kiểm soát nông thôn và áp đặt “bình định” bằng sức mạnh quân sự.

Cách đánh chủ yếu là “tìm diệt” (search and destroy): trực thăng vận, thiết xa vận, hỏa lực pháo binh – không quân áp đảo, hành quân càn quét quy mô lớn. Tướng Westmoreland theo đuổi “chiến tranh tiêu hao”, kỳ vọng ưu thế công nghệ sẽ bẻ gãy ý chí kháng chiến trong thời gian ngắn.
Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (1965–1968)
Song song với việc đổ quân ở miền Nam, Mỹ mở rộng ném bom miền Bắc (Sấm Rền) nhằm đánh vào giao thông, công nghiệp và hậu cần. Mục tiêu là cắt đứt chi viện qua Trường Sơn, làm suy yếu hậu phương lớn.
Miền Bắc triển khai phòng không nhiều tầng: cao xạ, tên lửa, không quân, kết hợp ngụy trang – phân tán lực lượng, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tuyến vận tải Trường Sơn được mở rộng cả đường bộ, đường sông, đường ống xăng dầu, bảo đảm mạch chi viện thông suốt.
Những trận – chiến dịch tiêu biểu 1965–1967
Vạn Tường (8/1965, Quảng Ngãi): Trận đầu đụng độ lớn với Thủy quân Lục chiến Mỹ. Ta chủ động phục kích – vây ép, gây tổn thất đáng kể và rút ra nhiều kinh nghiệm đối phó trực thăng – thiết giáp.
Plây Me – Ia Đrăng (10–11/1965, Tây Nguyên): Đụng độ quy mô sư đoàn – lữ đoàn đầu tiên giữa bộ đội chủ lực ta và quân Mỹ. Địa hình rừng núi, chiến thuật bám gần, chia cắt đội hình cơ động khiến ưu thế hỏa lực của Mỹ bị hạn chế.
Junction City (2–5/1967, Chiến khu C – Tây Ninh): Chiến dịch nhảy dù – càn quét lớn nhất của Mỹ nhằm “tìm diệt” cơ quan đầu não kháng chiến ở miền Nam. Ta kiên trì cơ động, đánh tập kích – phục kích, làm phá sản ý đồ tiêu diệt quyết định của đối phương.
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Cuối 1967, ta chủ động tạo thế nghi binh – giam chân đối phương trên nhiều hướng, trong đó có Đường 9 – Khe Sanh. Rạng sáng Tết Mậu Thân 1968, lực lượng cách mạng đồng loạt tiến công vào nhiều đô thị và căn cứ quân sự trọng yếu trên toàn miền Nam.

Tại Sài Gòn, Huế và một số thành phố lớn, chiến sự diễn ra ác liệt, kéo dài nhiều ngày. Dù ta chịu nhiều tổn thất, đòn tiến công chiến lược đã làm rung chuyển thế “bình định”, gây chấn động dư luận Mỹ và quốc tế, tạo bước ngoặt về chính trị – tâm lý của cuộc chiến.
Kết cục của “chiến tranh cục bộ” và hệ quả (1968)
Sau Mậu Thân, Mỹ buộc phải điều chỉnh: ngày 31/3/1968 Tổng thống Johnson tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán. Hội nghị Paris khai mạc (5/1968), mở mặt trận ngoại giao song hành với đấu tranh quân sự.
“Chiến tranh cục bộ” lộ rõ giới hạn: không đạt mục tiêu tiêu diệt lực lượng cách mạng, không giữ được nông thôn, chi phí tổn thất tăng cao. Đây là tiền đề để Mỹ chuyển dần sang chiến lược mới sau 1968 và từng bước xuống thang chiến tranh.
Việt Nam hóa chiến tranh & mặt trận ngoại giao (1969–1973)
Từ “Học thuyết Nixon”, Mỹ chuyển sang Việt Nam hóa: rút dần quân Mỹ, tăng nhanh quân đội Sài Gòn, dùng hỏa lực – viện trợ để “đánh người Việt bằng người Việt”. Ta chủ trương vừa đánh vừa đàm, tạo thế trên chiến trường để buộc Mỹ xuống thang và ký kết hòa bình có lợi.
Chiến lược Việt Nam hóa, chiến dịch 1972
Việt Nam hóa nhằm giảm tổn thất trực tiếp cho Mỹ nhưng vẫn giữ mục tiêu “thương lượng trên thế mạnh”. Nội dung cốt lõi là rút dần lính Mỹ, tăng cố vấn – hỏa lực không quân, hải quân; mở rộng bình định nông thôn, hiện đại hóa quân đội Sài Gòn về trang bị và chỉ huy.
Trên thực địa, Mỹ – Sài Gòn đẩy mạnh hành quân “quét và giữ”, phong tỏa đường biển, đánh phá tuyến Trường Sơn; đồng thời dùng viện trợ kinh tế – quân sự để duy trì chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, mâu thuẫn xã hội, tinh thần binh sĩ và sự phụ thuộc vào hỏa lực Mỹ khiến hiệu quả bình định hạn chế.
Phía ta kiên trì chiến tranh nhân dân, phát triển chủ lực cơ động, giữ mạch chi viện Trường Sơn và mở rộng vùng làm chủ. Chủ trương “vừa đánh vừa đàm” tạo sức ép kép: trên chiến trường để cải thiện tương quan, và trên bàn đàm phán để buộc đối phương nhượng bộ.
Năm 1972, ta mở Tổng tiến công chiến lược (Chiến dịch Nguyễn Huệ – Mùa Xuân 1972) trên ba hướng lớn: Trị – Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Kết quả, ta tiêu diệt – làm tan rã nhiều đơn vị đối phương, giải phóng phần lớn tỉnh Quảng Trị và giữ vững bờ Bắc sông Thạch Hãn, tạo thế – lực mới buộc Mỹ phải ồ ạt dùng lại không quân, hải quân và chấp nhận nhượng bộ đáng kể trên bàn đàm phán.
“Điện Biên Phủ trên không” 12/1972
Sau các vòng đàm phán Paris (10–11/1972) gặp trở ngại, Mỹ mở Chiến dịch Linebacker II (18–29/12/1972) nhằm gây sức ép cực đại: dùng B-52 rải thảm vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu miền Bắc để buộc ta ký theo điều kiện của họ.
Miền Bắc triển khai thế trận phòng không nhiều tầng, nòng cốt là tên lửa phòng không, pháo cao xạ, không quân tiêm kích cùng mạng lưới ra-đa, nghi binh – cơ động, “đánh gần – đánh thấp – đánh bất ngờ”. Toàn dân vừa chiến đấu vừa sơ tán, bảo đảm giao thông – thông tin không bị tê liệt.
Kết cục, ta bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có hàng chục B-52, làm phá sản mưu đồ “đàm phán từ vị thế áp đảo” của Mỹ. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và khả năng đánh bại vũ khí chiến lược hiện đại, buộc Mỹ tuyên bố ngừng ném bom và trở lại bàn đàm phán với nhượng bộ then chốt.
Hiệp định Paris 1973 – nội dung cốt lõi
Ngày 27/01/1973, bốn bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa) ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Hiệp định khẳng định nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam; nhân dân miền Nam có quyền tự quyết, không bên ngoài can thiệp. Hoa Kỳ cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân và phương tiện trong thời hạn quy định, hủy bỏ căn cứ quân sự.
Các bên ngừng bắn ở miền Nam, trao trả tù binh và dân thường bị bắt; lực lượng vũ trang miền Nam “ở đâu đứng yên ở đó”, thiết lập cơ chế giám sát quốc tế và liên hiệp để thực thi hiệp định. Mặc dù sau ký kết, đối phương vẫn tiếp tục nhận viện trợ và tình hình còn phức tạp, Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn về quân sự – ngoại giao, tạo thời cơ chiến lược để ta tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Tổng tiến công mùa Xuân 1975
Sau thắng lợi 1972 và Hiệp định Paris 1973, tương quan lực lượng nghiêng mạnh về phía ta, tạo thời cơ chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”. Bộ Chính trị quyết định mở tổng tiến công, quán triệt phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Tây Nguyên – “nổ phát súng mở màn”
Tháng 3/1975, ta chọn Buôn Ma Thuột làm hướng đột phá vì là điểm then chốt nhưng phòng bị sơ hở. Đòn đánh bất ngờ ngày 10/3 nhanh chóng làm tê liệt hệ thống chỉ huy, mở ra thế sụp đổ dây chuyền.
Sau đòn mở màn, ta kịp thời chuyển quyết tâm chiến lược: phát triển tiến công, chia cắt và vây ép các cụm quân còn lại. Quyết định rút bỏ Pleiku–Kon Tum theo đường số 7 của đối phương dẫn đến tan rã lớn trên toàn Tây Nguyên.
Thắng lợi ở Tây Nguyên phá vỡ tuyến phòng thủ chiến lược, mở cửa xuống duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Từ đây, nhịp tiến công được đẩy lên cao, tạo đà cho các chiến dịch tiếp theo.
Huế – Đà Nẵng: giải phóng dải miền Trung
Nắm thời cơ, các binh đoàn chủ lực thọc sâu xuống Trị–Thiên – Huế. Ta đánh chia cắt, khóa các trục giao thông, đồng thời nổi dậy ở cơ sở, buộc đối phương bỏ nhiều cứ điểm.
Ngày 26/3/1975, Huế được giải phóng. Lực lượng ta tiếp tục áp sát Đà Nẵng, nơi tập trung quân đông nhưng rối loạn chỉ huy và hậu cần.
Với thế bao vây từ nhiều hướng, ta tiến công dồn dập. Ngày 29/3/1975, Đà Nẵng giải phóng, toàn bộ miền Trung – Tây Nguyên căn bản được giải phóng, thế trận chiến lược chuyển hẳn sang phía ta.
Chiến dịch Hồ Chí Minh – 30/4/1975 và ý nghĩa lịch sử
Sau khi giải phóng Huế – Đà Nẵng, Bộ Chính trị quyết tâm kết thúc chiến tranh trong năm 1975. Các quân đoàn chủ lực, binh chủng kỹ thuật, pháo – tăng – phòng không… được cơ động cấp tốc, hình thành thế vây ép Sài Gòn từ năm hướng.

Ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn bằng những đòn đột phá cửa ngõ, đánh chiếm các mục tiêu then chốt: sân bay, căn cứ, tổng nha, cầu – cảng, thông tin. Thế tiến công “đánh thẳng vào tim địch” khiến hệ thống chỉ huy đối phương nhanh chóng tê liệt.
Trưa 30/4/1975, các mũi thọc sâu tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Lá cờ chiến thắng tung bay, đánh dấu miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất.
Ý nghĩa lịch sử: Chiến thắng mùa Xuân 1975 chấm dứt hơn 20 năm chiến tranh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, mở kỷ nguyên thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên bình diện quốc tế, đây là thắng lợi tiêu biểu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời đại mới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào độc lập trên thế giới
Ba chiến lược của Mỹ – so sánh nhanh
Ba chiến lược nối tiếp nhau cùng mục tiêu “bình định miền Nam, ép ta đàm phán trên thế mạnh”, nhưng khác về mức độ can dự và cách đánh. Bảng dưới giúp bạn nắm mấu chốt trong 1 phút.
| Tiêu chí | Chiến tranh đặc biệt (1961–1965) | Chiến tranh cục bộ (1965–1968) | Việt Nam hóa chiến tranh (1969–1973) |
| Mức độ can dự | Dựa quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ | Quân chiến đấu Mỹ tham chiến trực tiếp quy mô lớn | Rút dần quân Mỹ, “đánh bằng người Việt” với hỏa lực Mỹ yểm trợ |
| Mục tiêu cốt lõi | Bình định nông thôn, “tát nước bắt cá” | Tìm–diệt chủ lực ta, giành lại thế chủ động | Giữ chính quyền Sài Gòn, đàm phán từ thế mạnh |
| Cách đánh chủ đạo | Ấp chiến lược, trực thăng/thiết xa vận, lùng sục | Hành quân quy mô sư đoàn/quân đoàn, hỏa lực pháo–không quân áp đảo | “Quét và giữ”, không quân–hải quân yểm trợ, mở rộng bình định |
| Không kích miền Bắc | Chưa mở rộng | Mở phá hoại lần 1 (1965–1968) | Linebacker I–II (1972), đỉnh điểm 12/1972 |
| Điểm yếu nội tại | Phụ thuộc bộ máy Sài Gòn, ấp chiến lược phản dân | Chiến tranh tiêu hao đắt đỏ, khó giữ đất sau càn | Phụ thuộc hỏa lực Mỹ, tinh thần–hậu cần Sài Gòn bất ổn |
| Đòn bẻ gãy tiêu biểu | Ấp Bắc (1963), Bình Giã (1964–65) | Vạn Tường, Ia Đrăng (1965), Junction City (1967), Mậu Thân 1968 | Tổng tiến công 1972; “Điện Biên Phủ trên không” 12/1972 |
| Kết cục | Phá sản → chuyển sang cục bộ (1965) | Thất bại → xuống thang, đàm phán (1968) | Buộc ký Hiệp định Paris 1973, rút quân Mỹ |
Điểm nhấn “nhớ nhanh”:
- Đặc biệt: ít lính Mỹ, nặng bình định → sụp vì ấp chiến lược & nổi dậy nông thôn.
- Cục bộ: nhiều lính Mỹ, hỏa lực tối đa → bế tắc vì tiêu hao, Mậu Thân 1968 tạo bước ngoặt chính trị.
- Việt Nam hóa: rút Mỹ, tăng Sài Gòn + không quân → gãy ở Tổng tiến công 1972 và B-52 thất bại 12/1972, buộc ký Hiệp định Paris.
Sai lầm thường gặp khi học phần này
– Nhầm Đồng khởi với Mậu Thân
- Bản chất khác: Đồng khởi là nổi dậy ở nông thôn, phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, dẫn tới ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (12/1960). Mậu Thân 1968 là tổng tiến công – nổi dậy vào đô thị, tạo bước ngoặt chính trị buộc Mỹ xuống thang, chấp nhận đàm phán
- Mốc thời gian: 1959–1960 ↔ Tết 1968.
- Cách nhớ nhanh: “Đồng khởi = Đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ (mở thế); Mậu Thân = Mũi tiến công vào thành phố.”
– Nhầm Genève 1954 với Paris 1973
- Phạm vi cuộc chiến: Genève kết thúc kháng chiến chống Pháp; Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam với Mỹ.
- Nội dung cốt lõi: Genève 1954 → tạm thời chia Việt Nam ở vĩ tuyến 17, dự kiến tổng tuyển cử 1956, Pháp rút quân. Paris 1973 → Mỹ rút hết quân, ngừng bắn ở miền Nam, tôn trọng độc lập – chủ quyền Việt Nam.
- Chủ thể ký kết: Genève (Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…); Paris (4 bên: Mỹ, VNDCCH, CPCMLT, VNCH).
Cách nhớ nhanh: “Genève = Gạch chia vĩ tuyến; Paris = Pull-out (Mỹ rút).”
– Lẫn khái niệm “giải phóng miền Nam” và “thống nhất”
- Giải phóng miền Nam: 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc chiến tranh, chấm dứt chính quyền Sài Gòn, giải phóng toàn bộ miền Nam.
- Thống nhất đất nước: quá trình chính trị – pháp lý sau 1975, culminate ở 2/7/1976 khi Quốc hội khóa VI quyết định thành lập nước CHXHCN Việt Nam, thống nhất quốc gia về mặt nhà nước.
- Cách nhớ nhanh: Giải phóng (1975) → Thống nhất (1976): G trước T.
FAQs – giải đáp nhanh về kháng chiến chống Mỹ
Kháng chiến chống Mỹ kéo dài bao lâu?
Thời gian tính từ sau Hiệp định Genève 1954 đến 30/4/1975, khoảng 21 năm. Mốc mở đầu là đất nước tạm thời chia cắt và Mỹ can dự sâu ở miền Nam; mốc kết thúc là giải phóng Sài Gòn, chấm dứt chiến tranh.
Vai trò đường Trường Sơn?
Đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) là tuyến hậu cần chiến lược: vận chuyển người, vũ khí, lương thực, thuốc men… từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, xuyên qua Lào và Campuchia. Từ 1968 còn có đường ống xăng dầu, giữ “mạch máu” chi viện thông suốt, tạo thế và lực quyết định cho chiến tranh nhân dân.
Ý nghĩa ngày 30/4/1975?
Đó là mốc kết thúc chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất lãnh thổ về thực tế. Sự kiện mở kỷ nguyên độc lập, thống nhất, tạo tiền đề thống nhất nhà nước (1976) và bước vào thời kỳ cả nước đi lên CNXH.
Kết Luận
Bài viết đã hệ thống toàn cảnh kháng chiến chống Mỹ: bối cảnh sau Genève 1954, ba chiến lược của Mỹ, những bước ngoặt lớn đến Tổng tiến công Mùa Xuân 1975 và ý nghĩa 30/4.
Để giúp trẻ phát triển tư duy lịch sử và khám phá những nền văn minh cổ đại một cách sinh động thì ba mẹ hoàn toàn có thể yên tâm với app giáo dục sớm KidsUP Pro dành cho trẻ từ 1 – 8 tuổi. Học ngay trên điện thoại mà không cần kết nối wifi. Ba mẹ hãy đăng ký cho con từ sớm để nhận được những ưu đãi phù hợp nhất từ KidsUP nhé!


















